VIỆN KHOA HỌC HÀNG KHÔNG
Ngày 10/01/1990, Tổng Cục trưởng Tổng Cục HKDDVN ra Quyết định số 28/TCHK thành lập Viện KHHK; Trong giai đoạn này, Viện có
chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng,
cung cấp thông tin và dịch vụ KHCN, đào
tạo bổ túc nâng cao và là cơ quan thường trực của Hội đồng KHCN ngành Hàng không dân dụng VN (HKDDVN).
Sau 20 năm hoạt động, với sự quan tâm của Nhà nước
và TCTy cũng như các cơ quan đơn vị trong
và ngoài ngành, Viện đã từng bước khẳng định vị trí của mình bằng việc xác lập cơ
sở pháp lý, tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật và đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Tổ
chức cơ chế của Viện từng giai đoạn được kiện toàn, đổi
mới, hiện nay Viện vẫn là Viện
khoa học duy nhất của ngành HKVN. Những đóng
góp đó là tiền đề vững chắc
để Viện bước vào hoạt động trong
một cơ chế thị trường nhiều thách thức.
Hiện nay, cơ cấu tổ
chức của Viện bao gồm 03 phòng chức năng (Văn
phòng Đối ngoại; phòng Tài chính-Kế toán; phòng Kế hoạch) và 04 Trung tâm (trung tâm
Nghiên cứu - ứng dụng KHCN; trung tâm Thông tin-tư vấn KHCN; trung
tâm Dịch vụ KHCN; trung tâm Đào tạo): Đội ngũ chất xám của Viện đã được tăng cường về số lượng và chất lượng, bao
gồm các TS, thạc sĩ, kỹ sư cử nhân lành nghề, mê say
chuyên môn và công việc.
Mặc dù tổ chức cơ chế của ngành HKDDVN có những thay đổi, song Viện KHHK đã giữ đúng định hướng phát triển của một Viện nghiên
cứu chuyên ngành về Hàng không dân dụng, tập trung nghiên cứu về các lĩnh vực chuyên ngành cơ
bản hàng không, đó là:
1. Lĩnh vực quản lý Nhà nước.
Viện đã
chủ trì, triển khai nghiên cứu thành công "Những cơ sở lý luận cơ bản để xây dựng Luật Hàng không dân dụng VN", làm cơ sở cho sự
ra đời của Luật HKDDVN. Từ năm 1992 đến
nay, Viện chủ trì cùng các chủ nhiệm đề
tài (CNĐT) trong Viện, các Ban ngành thuộc
Cục và TCTy, xây dựng 58 văn bản dưới luật,
các qui chế, định mức KT-KT, các tiêu
chuẩn, qui trình qui phạm chuyên ngành, nhằm giúp công tác quản lý Nhà nước
Ngành HKDDVN ngày càng đi vào nề nếp.
2. Lĩnh vực cảng hàng không-sân bay.
Viện đã
chủ trì đề án "Thiết kế qui hoạch mạng sân
bay dân dụng toàn quốc", được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt. Đây là một nhiệm vụ
khoa học có tầm cỡ kinh tế-xã hội quan trọng của quốc gia trên cả hai lĩnh vực
kinh tế và quốc phòng.
Viện đã chủ trì cùng
các CNĐT của Viện và trong ngành nghiên
cứu 7 đề tài về hệ thống tiêu chuẩn, qui trình,
qui phạm thiết kế, thi công, thẩm định
công trình, tổ chức khai thác, quản lý, bảo trì, sửa chữa, nâng cấp cảng hàng
không-sân bay (CHK-SB). Viện là cơ quan bảo trợ của Hội Khoa học Kỹ thuật Xây
dựng công trình HK từ năm 1990.
3. Lĩnh vực quản lý-
điều
hành bay.
Viện đã
quản lý và thực hiện thành công hai đề án
lớn do UNDP tài trợ cho ngành HKDDVN, đó
là: VIE/89/016 về nâng cấp khí tượng HK và RAS/93/101 về nâng cấp công tác an
toàn, an ninh, đào tạo nguồn nhân lực Hàng không, tìm kiếm cứu nguy và Anh ngữ Hàng
không.
Viện đã chủ trì và phối
hợp với các cán bộ kỹ thuật ngành quản lý bay tổ chức thực hiện hơn chục ĐTNC về thông tin, dẫn đường, đề
tài NC-TK hệ thống thông tin dẫn đường và
giám sát bằng vệ tinh trong ngành HKDD, đề
án qui hoạch vùng trời Việt nam và khí tượng cho ngành quản lý bay.
4. Lĩnh vực kỹ thuật và VTHK.
Viện đã
chủ trì thực hiện đề tài: Thiết kế chế tạo máy
bay trực thăng siêu nhẹ (giai đoạn l); Nghiên cứu chế tạo lốp máy bay
TU-134 và IL-18, đã sản xuất thử nghiệm 29
lốp máy bay. Cả hai đề tài đã được
Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc.
Tính riêng từ năm 1996 đến nay, Viện
đã tham gia quản lý và chủ trì thực hiện 9
đề tài độc lập, chương trình định mức gồm 6 đề tài và chương trình qui chế gồm 21 đề tài. Trong số
đó, Viện chủ trì thực hiện 5 đề tài lớn
về xây dựng hệ thống định mức KT-KT; phát
triển nguồn nhân lực; hệ thống thông tin quản lý tổ chức thương mại thị trường
và KHCN của TCTy; tiêu chuẩn, định mức đặc thù trong XDCB của TCTy; qui chế hoạt động nghiên cứu phát triển KHCN của TCTy...
Nhìn chung, trong các lĩnh vực cơ bản của ngành HKDDVN, Viện đều tập trung
đầu tư nghiên cứu theo một định
hướng chiến lược rõ ràng. Những thành tích đạt được là nhờ sự nỗ lực chung của CB-CNV
trong Viện và sự ủng hộ của lãnh đạo và
các nhà khoa học trong và ngoài ngành. Ngoài ra, Viện đã chủ trì nghiên cứu xây dựng chiến lược
phát triển ngành; quy chế tổ chức hoạt động
NC-TK cấp ngành; quản lý hoạt động khoa
học của ngành; xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực của TCTy; chủ trì
và tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, tổ chức thành công hai lần triển
lãm thành tựu KT-KT HK; tham gia nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế trong và
ngoài nước; làm cơ quan thường trực của Hội đồng
KHCN ngành và TCTy...
5. Lĩnh vực thông tin - thư viện Hàng không.
Công tác thông tin-thư viện cũng có nhiều đóng góp liên tục và có hiệu quả cho ngành.
Viện đã duy trì đều đặn
xuất bản một tuần một số "Thông tin hàng không" và ấn phẩm "Thông tin KT-KT
HK" một quí một số, nhằm cập nhật các thông tin KT-KT HK thế giới và trong
nước cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động KHCN trong và ngoài ngành HK.
6. Lĩnh vực đào tạo.
Công tác đào tạo, bổ
túc, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ HK cũng được chú trọng. Viện đã đào
tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ HK cho các lớp trong và ngoài
ngành. Ngoài ra, Viện còn tổ chức lớp đào
tạo cho các giáo viên trường Đại học GTVT
về chương trình KT-KT HK. Hàng ngàn sinh viên ĐH ngoại ngữ, tin học, các lớp
Anh ngữ trình độ A, B, C đã được đào tạo tại Viện Khoa học Hàng không; Viện
cũng thực hiện thành công các lớp đào tạo lý luận cao cấp cho Hàng không Lào.
Hàng
năm, Viện có kế hoạch đào tạo, nâng
cao và bổ túc ngắn hạn, đại học và trên đại học cho CB-CNV. Các công tác Đảng, Đoàn,
Công Đoàn cũng được chú trọng. Các hoạt động văn
nghệ, thể dục thể thao và hoạt động xã hội
khác cũng được khuyến khích.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tuy có nhiều khó khăn, thử thách song không thể phủ nhận
những thành tích mà CB-CNV của Viện đã đóng góp cho sự phát
triển của ngành HKDDVN nói chung và của Viện nói riêng. Bước vào thế kỷ 21,
thế kỷ của KHCN tiên tiến, toàn thể CB- CNV của Viện ấp ủ một niềm tin mãnh
liệt vào sự phát triển KHCN của HKVN và vào vai trò không thể thiếu được của một Viện NC KHCN HK duy nhất của
một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn của đất
nước.